Dịch vụ công chứng

Văn bản phấp luật

các tiện ích khác

Hiện nay, nhiều người dân trong đó có cả cán bộ, công chức không phân biệt được và vẫn thường nhầm lẫn giữa công chứng và chứng thực, cũng như không biết phải chứng thực ở đâu, mặc dù Luật công chứng có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2007. Vì vậy, để giúp bạn đọc hiểu được sự khác biệt giữa công chứng với chứng thực, thuận tiện trong giao dịch cũng như trong việc thực hiện những thủ tục hành chính tốt, chúng tôi xin giới thiệu những vấn đề khác biệt cơ bản giữa công chứng và chứng thực.

 

I. Công chứng và thẩm quyền công chứng

Công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng.
Công chứng viên là người có đủ tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật, được bổ nhiệm đề hành nghề công chứng. Công chứng là một nghề, người hành nghề công chứng được hoạt động trong các tổ chức hành nghề công chứng đó là Phòng công chứng và Văn phòng công chứng.
Phòng công chứng do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập, là đơn vị sự nghiệp thuộc Sở tư pháp, có trụ sở, con dấu và tài khoản riêng. Tên gọi của Phòng công chứng bao gồm số thứ tự thành lập và tên của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi Phòng công chứng được thành lập.

Văn phòng công chứng do công chứng viên thành lập có trụ sở, con dấu và tài khoản riêng, hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính bằng nguồn thu từ kinh phí đóng góp của công chứng viên, phí công chứng, thù lao công chứng và các nguồn thu hợp pháp khác. Văn phòng công chức hoạt đông theo luật Doanh nghiệp. Văn phòng do một công chứng viên thành lập được tổ chức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân; văn phòng công chứng do hai công chứng viên trở lên thành lập thì đợc tổ chức và hoạt động theo loại hình công ty hợp danh.
Thẩm quyền Phòng Công chứng, Văn phòng Công chứng:

- Công chứng các hợp đồng giao dịch về bất động sản.

Căn cứ theo Điều 37 của Luật công chứng thì Công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng có thẩm quyền công chứng các hợp đồng, giao dịch về bất động sản trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi tổ chức hành nghề công chứng đặt trụ sở, trừ trường hợp quy định tai khoản 2 điều này (Công chứng viên của các tổ chức hành nghề công chứng có thẩm quyền công chứng di chúc, văn bản từ chối nhận di sản là bất động sản). Các hợp đồng giao dịch về bất động sản như là: Hợp đồng mua bán, chuyển nhượng, chuyển đổi; Hợp đồng thuê mượn; Hợp đồng tặng cho; Hợp đồng thế chấp.

- Công chứng hợp đồng mua bán, thuê mượn, tặng cho xe ô tô và các loại tài sản khác;

- Công chứng hợp đồng bảo lãnh, cầm cố, thế chấp;

- Công chứng các loại giao dịch, hợp đồng hợp pháp theo yêu cầu ;

- Công chứng Hợp đồng thương mại, Hợp đồng uỷ quyền;

- Công chứng di chúc;

- Công chứng văn bản thoả thuận phân chia di sản;

- Công chứng văn bản khai nhận di sản ;

- Nhận lưu giữ di chúc;

- Công chứng việc sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ hợp đồng, giao dịch.

Việc sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ hợp đồng, giao dịch đã được công chứng chỉ được thực hiện khi có sự thoả thuận, cam kết bằng văn bản của tất cả những người đã tham gia hợp đồng, giao dịch đó, và phải được công chứng.

Người thực hiện việc công chứng sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ hợp đồng, giao dịch phải là Công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công chứng đó. Trường hợp tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công chứng chấm dứt hoạt động hoặc giải thể thì Công chứng viên thuộc tổ chức hành nghề công chứng đang lưu trữ hồ sơ công chứng thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ hợp đồng, giao dịch.
Công chứng việc sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ hợp đồng, giao dịch được thực hiện theo thủ tục công chứng hợp đồng, giao dịch quy định tại Chương IV của Luật Công chứng.

II. Chứng thực và thẩm quyền chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký

* Chứng thực là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật căn cứ vào bản chính để chứng thực bản sao là đúng với bản chính, hoặc chứng thực chữ ký trong các giấy tờ, văn bản là chữ ký của người đã yêu cầu chứng thực.
Theo quy định trên, nội dung chứng thực bao gồm chứng thực bản sao từ bản chính và chứng thực chữ ký trong các giấy tờ, văn bản.

- Chứng thực bản sao từ bản chính là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền (sẽ làm rõ ở phần sau) căn cứ vào bản chính để chứng thực bản sao là đúng với bản chính.

+ Bản chính là bản do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp lần đầu tiên có giá trị pháp lý để sử dụng, là cơ sở để đối chiếu và chứng thực bản sao.

+ Bản sao là bản chụp, bản in, bản đánh máy, bản đánh máy vi tính hoặc bản viết tay có nội dung đầy đủ, chính xác như sổ gốc hoặc bản chính.

+ Sổ gốc là sổ do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp bản chính lập ra khi thực hiện việc cấp bản chính, trong đó có ghi đầy đủ những nội dung như bản chính mà cơ quan, tổ chức đó đã cấp.

- Chứng thực chữ ký là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản là chữ ký của người đã yêu cầu chứng thực.

* Thẩm quyền và trách nhiệm chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký:

Theo quy định của Nghị định số: 79/NĐ-CP ngày 18 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký, thì những cơ quan sau đây có thẩm quyền và trách nhiệm chứng thực:

- Thứ nhất, là Phòng Tư pháp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi là Phòng Tư pháp cấp huyện). Phòng tư pháp cấp huyện có thẩm quyền và trách nhiệm chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ, văn bản bằng tiếng nước ngoài; chứng thực chữ ký của người dịch trong các giấy tờ, văn bản từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt hoặc từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài; chứng thực chữ ký trong các giầy tờ, văn bản bằng tiếng nước ngoài.

Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện thực hiện chứng thực các việc theo quy định trên và đóng dấu của Phòng Tư pháp.

- Thứ hai, là Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp xã). Uỷ ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền và trách nhiệm chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt; chứng thực chữ ký trong các giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt.
Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện chứng thực các việc quy định trên và đóng dấu của Ủy ban nhân dân cấp xã.

- Thứ ba, là cơ quan đại diện ngại giao, cơ quan lãnh sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài ( sau đậy gọi là Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài). Để đáp ứng yêu cầu chứng thực ở nước ngoài, pháp luật quy định Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có thẩm quyền và trách nhiệm chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt và tiếng nước ngoài; chứng thực chữ ký trong các giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt hoặc tiếng nước ngoài; chữ ký người dịch trong các bản dịch từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt hoặc từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài.

Viên chức lãnh sự, viên chức ngoại giao của Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài thực hiện chứng thực các việc theo thẩm quyền và đóng dấu của Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài.
Tóm lại, công chứng và chứng thực là hoàn toàn khác nhau. Công chứng là hành vi của Công chứng viên hành nghề trong các Phòng công chức và Văn phòng công chứng; còn chứng thực là hành vi của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, cụ thể là Trưởng, phó phòng Tư pháp cấp huyện, Chủ tịch, phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã, Viên chức lãnh sự, viên chức ngoại giao của Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài.


Theo http://truongchinhtrina.gov.vn (
http://truongchinhtrina.gov.vn/)

 

Taì liệu tham khảo :

 

 

 

Nghị định 79/2007/NĐ-CP. hiện đã được bổ sung, điều chỉnh một số điều theo nghị định 04/2012/NĐ-CP và nghị định 06/2012/NĐ-CP.
Nghị định 06/2012/NĐ - CP:
Điều 5 nghị định 79/2007/NĐ-CP được sửa đổi bổ sung như sau:
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 5 về thẩm quyền và trách nhiệm chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký:
1. Điểm a và điểm b khoản 1 Điều 5 được sửa đổi như sau:
a) Chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ, văn bản bằng tiếng nước ngoài và giấy tờ, văn bản song ngữ.
b) Chứng thực chữ ký của người dịch trong các giấy tờ, văn bản từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt hoặc từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài; chứng thực chữ ký trong các giấy tờ, văn bản bằng tiếng nước ngoài và giấy tờ, văn bản song ngữ.
2. Bổ sung điểm c vào khoản 1 Điều 5 như sau:
c) Chứng thực các việc quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định số 79/2007/NĐ-CP.
Đây là điều 5 theo nghị định 79/2007/NĐ-CP:
Điều 5. Thẩm quyền và trách nhiệm chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký
1. Phòng Tư pháp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi là Phòng Tư pháp cấp huyện) có thẩm quyền và trách nhiệm:
a) Chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ, văn bản bằng tiếng nước ngoài;
b) Chứng thực chữ ký của người dịch trong các giấy tờ, văn bản từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt hoặc từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài; chứng thực chữ ký trong các giấy tờ, văn bản bằng tiếng nước ngoài;Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện thực hiện chứng thực các việc theo quy định tại khoản 1 Điều này và đóng dấu của Phòng Tư pháp.
2. Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp xã) có thẩm quyền và trách nhiệm:
a) Chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt;
b) Chứng thực chữ ký trong các giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt.Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện chứng thực các việc theo quy định tại khoản 2 Điều này và đóng dấu của Ủy ban nhân dân cấp xã.
3. Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài (sau đây gọi là Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài)có thẩm quyền và trách nhiệm:
a) Chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt và tiếng nước ngoài;
b) Chứng thực chữ ký trong các giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt hoặc tiếng nước ngoài; chữ ký người dịch trong các bản dịch từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt hoặc từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài.Viên chức lãnh sự, viên chức ngoại giao của Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài thực hiện chứng thực các việc theo thẩm quyền và đóng dấu của Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài.
4. Thẩm quyền chứng thực bản sao từ bản chính, chữ ký quy định tại Điều này không phụ thuộc vào nơi cư trú của người yêu cầu chứng thực.

Một lưu ý nữa là các văn bản tiếng nước ngoài sử dụng con dấu, chữ ký của pháp nhân nước ngoài phải được hợp pháp hóa lãnh sự trước khi chứng thực.


 

 

Các bài liên quan

Tên đăng nhập :

Mật khẩu:

 |  Đăng ký

Hổ trợ trực tuyến

Liên kết website

 .

Sơ đồ địa điểm

Văn Phòng Công Chứng Thạnh Phú

Logo đối tác